Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ cổ đông thiểu số theo quy định pháp luật hiện hành

Công ty cổ phần là một mô hình kinh doanh điển hình nhất về loại công ty đối vốn, trong đó các cổ đông góp vốn bằng cách mua cổ phần để trở thành đồng chủ sở hữu của công ty. Tuy nhiên, đặc trưng của công ty cổ phần là sự tách biệt giữa quyền sở hữu và chức năng quản lý điều hành, bởi lẽ có những lúc người quản lý không hành động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho toàn bộ các cổ đông. Lúc này, các xung đột về lợi ích giữa cổ đông với người quản lý xuất hiện và phần lớn các trường hợp, người bị thiệt hơn cả là các cổ đông, trong đó nhóm cổ đông thiểu số là một thành phần cũng chịu nhiều thiệt thòi và cần được chú trọng, quan tâm bảo vệ nhằm đảm bảo các quyền lợi hợp pháp của họ khi tham gia vào mô hình kinh doanh của công ty cổ phần.

Bảo vệ cổ đông thiểu số được coi là một trong những vấn đề cơ bản trong việc quản trị công ty cổ phần. Pháp luật trên thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng đã dần chú trọng hơn và dành sự quan tâm khá lớn đến vấn đề bảo vệ nhóm cổ đông thiểu số, điều này cũng được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 hiện hành. Do đó, vấn đề “Bảo vệ cổ đông thiểu số” nhằm mục đích cung cấp góc nhìn lý luận chung về các vấn đề xoay quanh nhóm cổ đông, cổ đông thiểu số trong mối quan hệ kinh doanh. Đồng thời, bài viết còn tập trung phân tích đánh giá dưới góc nhìn pháp luật và thực trạng xã hội để từ đó đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hơn nữa về hiệu quả trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số dưới góc độ hoàn thiện pháp luật.

Thiet ke khong ten 1

Một số vấn đề chung về cổ đông, cổ đông thiểu số và bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần

Cổ đông là người mua cổ phần, tức là người góp vốn vào công ty. Luật Doanh nghiệp năm 2020 định nghĩa “Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần” (khoản 3, Điều 4). Trong đó, cổ phần chính là vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, đây cũng chính là phần vốn nhỏ nhất của công ty cổ phần. Công ty cổ phần có thể có nhiều cổ đông và cũng có thể có thể có một cổ đông. Tại Việt Nam hiện nay, không có quan niệm về công ty cổ phần một cổ đông [1].

Pháp luật Việt Nam cũng nêu rõ, đặt ra quy định về số lượng cổ đông tối thiểu của một công ty cổ phần đó là 3 thành viên và không hạn chế số lượng tối đa (điểm b, khoản 1, Điều 111 của Luật Doanh nghiệp năm 2020). Tuỳ theo cách phân loại theo quyền và nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu mà cổ đông đó sở hữu, cổ đông được phân thành như sau: cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi và cổ đông sáng lập. Trên thực tế, hoạt động của một số công ty cổ phần thì có loại hình công ty cổ phần chỉ có một cổ đông chi phối hoặc biến tướng để phù hợp khi đăng ký thành lập nhưng thực tế hoạt động điều hành chỉ có một cổ đông. Mọi Công ty cổ phần đều phải lập sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu của pháp luật. Sổ đăng ký cổ đông có thể là văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này. Phải được lưu trữ tại trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc trung tâm lưu ý chứng khoán. Cổ đông được quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục, sao chép nội dung sổ đăng ký cổ đông. Việc quy định sổ cổ đông và cách thức quản lý sổ cổ đông và thông tin trao đổi được quy định tại khoản 2, Điều 122, Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay hiện vẫn chưa đưa ra khái niệm về cổ đông thiểu số. Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận, hiện đã có những quan điểm tiếp cận khác nhau khi đề cập tới vấn đề này:

Quan điểm thứ nhất cho rằng cổ đông thiểu số là những cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu dưới 5% số cổ phần trong công ty. Cách hiểu này xuất phát từ quy định của Luật Chứng khoán năm 2019 (khoản 18 Điều 4), theo đó luật định nghĩa “Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”. Do đó, nếu hiểu theo chiều hướng ngược lại thì người sở hữu dưới 5% tổng số cổ phần trong công ty sẽ được xếp vào nhóm cổ đông thiểu số. Với cách hiểu này, thông qua việc xem xét tỉ lệ sở hữu cổ phần công ty của từng cổ đông sẽ là tiêu chí duy nhất để xác định cổ đông thiểu số trong công ty.

Quan điểm thứ hai cho rằng, để xác định cổ đông thiểu số cần xem xét tổng thể trên cả tiêu chí tỷ lệ sở hữu cổ phần và khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động trong công ty giữa các nhóm cổ đông. Bởi lẽ trên thực tế, vẫn có trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần tương đối lớn, nhưng lại không có quyền kiểm soát, điều hành chi phối trong công ty do nhóm cổ đông lớn nắm giữ đủ số cổ phần để toàn quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Hay có trường hợp cổ đông sở hữu tỷ lệ cổ phần nhỏ, nhưng nắm quyền biểu quyết chi phối lớn, phổ biến nhất là trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Quan điểm này cũng là phù hợp với thực tiễn quản trị tại công ty cổ phần hiện nay.

Từ những quan điểm trên cho thấy việc xác định cổ đông thiểu số nên dựa trên sự tìm hiểu theo hướng mở tùy thuộc vào cơ cấu cổ dông từng doanh nghiệp. Do đó, có thể hiểu cổ đông thiểu số như sau: “Cổ đông thiểu số là cổ đông sở hữu tỷ lệ cổ phần nhỏ trong công ty cổ phần và ít có khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động của công ty cổ phần đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp”.

Cổ đông thiểu số là một bộ phận, là thành viên của công ty cổ phần. Do đó, bên cạnh những đặc điểm giống với đặc điểm chung của cổ đông phổ thông trong công ty cổ phần thì nhóm cổ đông thiểu số có một số đặc trưng riêng sau.

Thứ nhất, cổ đông thiểu số chiếm tỷ lệ nhỏ trong công ty cổ phần. Với một lượng lớn cổ đông và không có quy định về giới hạn số lượng cổ đông trong công ty cổ phần. Vì vậy, bên cạnh những cổ đông có phần vốn góp lớn nắm giữ vị trí quan trọng và có tiếng nói trong công ty thì số lượng cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần lại chiếm phần nhỏ không đáng kể, không chỉ ít về số lượng mà còn ít có sự ảnh hưởng trong công ty. Do đó, cổ đông thiểu số được xem như bộ phận nhỏ trong công ty cổ phần.

Thứ hai, cổ đông thiểu số ít có khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động của công ty cổ phần. Bởi lẽ, do phần vốn góp ít nên quyền hạn, vị trí của cổ đông thiểu số trong công ty còn hạn chế. Vì thế, trong một số trường hợp, khi có những quan điểm trái ngược nhau, thì cổ đông thiểu số không thể ngăn cản, phủ quyết các quyết định của Đại hội đồng cổ đông được cho là trái với quyền lợi của công ty. Ngược lại, nhóm cổ đông lớn với tỷ lệ cổ phần chiếm đa số, có thể dễ dàng thông qua mọi nghị quyết, quyết định của đại hội đồng cổ đông mà không cần quan tâm đến ý kiến đồng thuận hay phản đối của nhóm cổ đông thiểu số.

Thứ ba, cổ đông thiểu số là đối tượng cần được bảo vệ. Bảo vệ cổ đông thiểu số là bảo vệ đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, hạn chế và ngăn chặn cổ đông lớn, người quản lý chiếm đoạt những lợi ích hợp pháp của cổ đông thiểu số như bị cổ đông lớn chèn ép, bị hạn chế quyền tham dự đại hội cổ đông, ít có chỗ đứng và tiếng nói trong công ty… Vì vậy, pháp luật cần quan tâm hơn nữa trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần hiện nay.

Bảo vệ cổ đông thiểu số và các yếu tố tác động đến vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số

Về bảo vệ cổ đông thiểu số, có thể hiểu như sau: “Bảo vệ cổ đông thiểu số là việc xây dựng các công cụ pháp luật và thực thi hiệu quả các biện pháp, cơ chế đó nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của cổ đông, trong đó bao gồm việc các cổ đông thực hiện đầy đủ và trọn vẹn các quyền và lợi ích chính đáng của mình trước những nguy cơ bị xâm hại”. Xét về các yếu tố tác động, nhận thấy có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng trực tiếp tới việc bảo vệ cổ đông thiểu số, cụ thể:

Thứ nhất, yếu tố pháp luật. Pháp luật là các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực Nhà nước. Do đó, việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số có sự tác động rất lớn đến từ pháp luật. Bởi lẽ, nếu pháp luật đặt ra các quy định cụ thể để bảo vệ cổ đông thiểu số thì sẽ bảo đảm tính có căn cứ về quy định để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong vấn đề kinh doanh tại các doanh nghiệp, tạo cơ sở để họ phát triển và đóng góp cho sự phát triển của công ty. Ngược lại, nếu pháp luật không quy định hoặc có rất ít những quy định về việc bảo vệ quyền lợi cho cổ đông thiểu số thì dẫn đến tình trạng quyền lợi của họ sẽ không được bảo đảm công bằng, bình đẳng trong công ty qua việc quyết định các vấn đề, nêu ý kiến và quan điểm trong các cuộc họp và làm việc tại công ty. Vì vậy, pháp luật cần hoàn thiện và quan tâm đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông yếu thế là nhân tố, yếu tố hàng đầu, quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi cho họ.

Thứ hai, yếu tố con người. Con người luôn là nhân tố quyết định các vấn đề liên quan. Trong công ty cổ phần nếu các cổ đông đều tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong công ty, đặt lợi ích của công ty lên hàng đầu thì sẽ bảo đảm sự bình đẳng, phát triển bền vững của công ty, doanh nghiệp, các thành viên sẽ có cơ hội thể hiện quan điểm, suy nghĩ và khẳng định được những giá trị của bản thân nhằm phát triển công ty. Và ngược lại nếu các cổ đông lớn luôn tìm cách gây sức ép, làm khó cổ đông thiểu số sẽ gây ra tình trạng mất cân bằng và không bình đẳng giữa các cổ đông với nhau sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và ổn định của công ty. Hơn nữa, mỗi cổ đông thiểu số cần có hiểu biết pháp luật sâu sắc, nhất là pháp luật về công ty, doanh nghiệp để kịp thời có những biện pháp bảo vệ mình phù hợp đúng quy định của pháp luật. Khi có hiểu biết pháp luật, cổ đông thiếu số đã trang bị cho mình phương thức bảo đảm quyền lợi hiệu quả, có những ý kiến sâu sắc, có căn cứ thuyết phục và tạo điều kiện phát triển của nhóm cổ đông thiểu số. Đặc biệt, họ sẽ nắm rõ được cơ chế, quy định để tạo ra hành lang pháp lý quan trọng để tự bảo vệ quyền lợi của mình trong công ty cổ phần trước những áp lực, bất bình đẳng tác động đến họ.

Thứ ba, yếu tố môi trường làm việc. Môi trường làm việc thường xuyên tác động đến các cổ đông, nếu các cổ đông làm việc trong môi trường an toàn, bình đẳng và tạo điều kiện giúp nhau cùng phát triển sẽ bảo vệ được quyền lợi cho các cổ đông thiểu số tránh sự phân biệt và chèn ép. Tuy nhiên, nếu làm việc trong môi trường cạnh tranh quá cao, bị áp lực công việc và các cổ đông khác thì sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của cổ đông thiểu số, không ai bảo vệ quyền lợi và giúp họ lên tiếng bình đẳng trong môi trường làm việc. Vì vậy, cần tạo ra môi trường làm việc hiệu quả, bình đẳng, công bằng, lành mạnh trên tinh thần xây dựng và phát triển trong công ty.

Thứ tư, yếu tố về hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Công ty là các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra thu nhập và sinh lời. Do đó, hoạt động kinh doanh rất năng động và có tính cạnh tranh cao, có sự ganh đua giữa các cá nhân, doanh nghiệp liên quan đến doanh thu và lợi nhuận. Hơn nữa, vấn đề đạo đức trong kinh doanh và làm việc cũng tác động đến việc bảo vệ quyền lợi cho cổ đông thiểu số, nếu đạo đức kinh doanh, hoạt động kinh doanh ổn định, phát triển thì cổ đông thiểu số được điều kiện phát triển, họ năng động trong quá trình làm việc. Nếu đạo đức, môi trường kinh doanh cạnh tranh và áp lực quá cao thì họ sẽ bị các cổ đông khác gây sức ép, các ý kiến của họ lúc này thiếu trọng lượng và chưa bảo đảm được sự công bằng khi lợi nhuận luôn đặt ở vị trí hàng đầu.

Thứ năm, yếu tố về quy định, điều lệ công ty. Công ty luôn có các quy định, điều lệ của mình, điều lệ được ví như bản “hiến pháp” của công ty nhằm điều chỉnh các vấn đề có liên quan trong hoạt động và nội bộ công ty đó. Do vậy, điều lệ rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của công ty. Khi công ty luôn quan tâm, sát sao với việc bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa các cổ đông dù là cổ đông lớn hay cổ đông thiểu số và được quy định trong điều lệ đề cao sự bình đẳng đó thì các cổ đông thiếu số sẽ được bảo vệ quyền lợi một cách rõ ràng, đầy đủ và có cơ sở, căn cứ bảo vệ quyền của mình tránh sự chèn ép, gây áp lực từ các cổ đông lớn và thành viên khác của công ty. Tuy nhiên, nếu công ty chưa chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi cho các nhóm cổ đông thiểu số, yếu thế mà chỉ tập trung vào vấn đề kinh doanh, lợi nhuận sẽ dẫn đến tình trạng mất cân bằng, cổ đông thiếu số thiếu cơ chế bảo đảm quyền lợi sẽ làm môi trường làm việc, kinh doanh trong công ty thiếu đi sự lành mạnh và cổ đông thiếu số không có điều kiện phát triển.

Thứ sáu, yếu tố học hỏi và hợp tác nước ngoài. Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trên các lĩnh vực của cuộc sống, các quốc gia và vùng lãnh thổ được giao lưu, hợp tác thuận tiện và dễ dàng hơn, trong đó có sự phát triển của các hoạt động kinh doanh thương mại. Khi tăng cường và hợp tác nước ngoài, chúng ta sẽ học tập được các kinh nghiệm quý báu của thế giới phù hợp với Việt Nam về các loại hình công ty, vấn đề kinh doanh, phát triển kinh tế, kinh nghiệm đầu tư, quản trị công ty và các vấn đề bảo vệ các thành viên, cổ đông của công ty, trong đó có cổ đông thiếu số. Từ đó, pháp luật sẽ dần hoàn thiện theo hướng phát triển kinh doanh, thương mại nhưng cũng luôn quan tâm và bảo đảm quyền lợi cho các cổ đông và thành viên công ty được hiểu quả để phát triển bền vững hoạt động của các công ty hiện nay.

Vai trò của việc bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần hiện nay

Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần là một vấn đề rất quan trọng thu hút được sự quan tâm, chú ý của xã hội. Điều này có vị trí và vai trò to lớn tác động trực tiếp tới sự hợp tác và phát triển bền vững của công ty với nhà đầu tư, không những thế còn ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế nước nhà.

Thứ nhất, đảm bảo sự công bằng trong quá trình làm việc các cổ đông trong công ty cổ phần. Mặc dù cổ đông thiểu số chỉ đóng góp phần vốn nhỏ và ít hơn số vốn của cổ đông lớn nhưng việc tạo ra sự công bằng, khách quan trong cùng công ty cần phải đặt lên hàng đầu. Bởi lẽ, vai trò quan trọng của các cổ đông thiểu số trong việc tạo ra nguồn vốn cho nền kinh tế cho công ty cũng lớn. Vì thế, cần phải tạo ra môi trường làm việc hiệu quả, hài hòa, cân đối giữa các cổ đông trong công ty nhằm hướng đến mục tiêu phát triển lâu dài, tránh tình trạng các cổ đông lớn chèn ép, bất đồng quan điểm với cổ đông thiểu số làm gia tăng mâu thuẫn, ảnh hưởng lớn tới hoạt động, sự phát triển của công ty… Có như vậy mới giúp quá trình làm việc của các cổ đông trong công ty cổ phần đạt hiệu quả cao và ổn định.

Thứ hai, đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâu dài của công ty cổ phần. Hiện nay, chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của công ty cổ phần. Đây được xem như loại hình công ty phát triển phổ biến trên toàn thế giới với quy mô lớn, hiệu quả hoạt động của loại hình doanh nghiệp này cao vì vậy nó tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Nhìn chung, công ty cổ phần đều được xây dựng từ những nhà đầu tư (cổ đông). Họ bỏ tiền ra đầu tư vào các công ty nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và đó là nguồn gốc hình thành nên loại hình doanh nghiệp này. Vì vậy, muốn duy trì sự tồn tại và phát triển của công ty cổ phần thì cần phải bảo vệ tốt quyền và lợi ích của các cổ đông, đặc biệt là các cổ đông thiểu số. Bởi lẽ, chẳng ai chịu bỏ tiền ra kinh doanh vào công ty cổ phần hay mua chứng khoán mà quyền lợi của họ không được đảm bảo, mặt khác lợi nhuận cũng không ổn định. Do đó, cần phải chú trọng quan tâm, xây dựng và hoàn thiện công cụ pháp lý để bảo đảm quyền lợi các cổ đông trong công ty nhằm thúc đẩy sự phát triển của mô hình loại doanh nghiệp này.

Thứ ba, xây dựng môi trường kinh doanh làm việc lành mạnh và bền vững góp phần phát triển các doanh nghiệp tại Việt Nam được ổn định, đồng thời thu hút và tận dụng được tiềm năng của thị trường trong nước. Để huy động được các nguồn vốn khác nhau từ các nhà đầu tư, cần phải đặt ra các cơ chế pháp lý để đảm bảo và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng mà họ nhận được thông qua hoạt động đầu tư. Trong đó, việc xây dựng các cơ chế pháp lý hữu hiệu trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số không chỉ giúp giữ được chân các nhà đầu tư trong nước mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thu hút, lôi kéo các nhà đầu tư nước ngoài đến thực hiện các dự án đầu tư.

Vì vậy, Nhà nước với vai trò là người thực hiện các chính sách vĩ mô điều tiết nền kinh tế cần quan tâm và hoàn thiện tốt hệ thống các công cụ pháp lý hữu hiệu và các chế định pháp lý hiện hành nhằm bảo vệ hiệu quả quyền lợi của các cổ đông trong công ty, đặc biệt là cổ đông thiểu số. Qua đó, tạo niềm tin và khuyến khích nhà đầu tư tham gia kinh doanh hoặc tin tưởng thực hiện các dự án và trực tiếp tạo nguồn vốn cho sự vận hành của nền kinh tế. Có như vậy, chúng ta mới tận dụng tốt hơn nữa những tiềm năng của thị trường trong và ngoài nước nhằm phát triển, góp phần thúc đẩy tới sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế nước nhà, đồng thời ổn định và mở rộng hơn nữa tiềm năng khai thác nguồn lực của thị trường trong và ngoài nước.

Pháp luật Việt Nam về bảo vệ cổ đông thiểu số

Khái quát chung về quyền của cổ đông trong công ty cổ phần

Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2020, pháp luật đã đặt ra một số quy định cụ thể về quyền của từng nhóm cổ đông trong công ty cổ phần, theo đó từng cổ đông trong công ty sẽ có những quyền hạn như:

Đối với cổ đông phổ thông – những người sở hữu cổ phần phổ thông của công ty có những quyền như: quyền được tham dự, phát biểu và thực hiện quyền biểu quyết trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông; quyền nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông; quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán; quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác; ngoài ra cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng có thêm các quyền như: đề cử người vào Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, yêu cầu ban kiểm soát kiểm tra, yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông (Điều 115, Luật Doanh nghiệp năm 2020).

Đối với cổ đông ưu đãi trong công ty cổ phần. Xét từng loại cổ đông ưu đãi sẽ có các quyền riêng khác nhau. Trường hợp là cổ đông ưu đãi biểu quyết sẽ có những quyền giống với các quyền của cổ đông phổ thông, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho mọi người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc thừa kế (khoản 3, Điều 116, Luật Doanh nghiệp năm 2020). Đối với cổ đông ưu đãi cổ tức sẽ có các quyền như: được nhận cổ tức theo quy định tại Điều 117, ngoài ra còn có quyền được nhận phần tài sản còn lại tại công ty sau khi công ty thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại khi công ty giải thể hoặc phá sản, tuy nhiên lại xếp hàng sau cổ đông ưu đãi hoàn lại.

Mặt khác, còn có các quyền và nghĩa vụ như cổ đông phổ thông (trừ quyền biểu quyết, dự họp Hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị, ban kiểm soát). Đối với cổ đông ưu đãi hoàn lại có quyền và nghĩa vụ được quy định rõ tại Điều 118, Luật Doanh nghiệp năm 2020; theo đó nhóm cổ đông ưu đãi hoàn lại có các quyền giống với cổ đông phổ thông, ngoại trừ những quyền không có như cổ đông ưu đãi cổ tức.

Đối với cổ đông sáng lập – người mua cổ phần, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều lệ đàu tiên của công ty cổ phần. Xét về phương diện quyền và nghĩa vụ, cổ đông sáng lập có quyền và nghĩa vụ như các cổ đông phổ thông, trừ quyền được nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết và không có quyền được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập trong ba năm đầu.

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận các quyền cơ bản của các cổ đông trong công ty cổ phần. Việc ghi nhận đó đã khẳng định việc bảo đảm quyền lợi của họ trong công ty, hoàn thiện thêm hệ thống pháp luật Việt Nam về kinh doanh thương mại, giúp các cổ đông có căn cứ pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh những hành vi xâm hại, ảnh hưởng đến quá trình làm việc trong công ty.

Một số quy định trong việc bảo vệ quyền cổ đông thiểu số hiện nay

Hiện nay, tại Việt Nam cổ đông thiểu số luôn chiếm phần nhỏ trong công ty cổ phần. Vì vậy, vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần luôn rất quan trọng và thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý của xã hội. Bên cạnh việc quy định những quyền lợi chung của cổ đông thì pháp luật Việt Nam cũng đang dần ghi nhận và quan tâm hơn các quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần. Mặc dù “cuộc đua” giữa các nhóm cổ đông trong công ty cổ phần được quyết định phần lớn vào việc ai sở hữu cổ phần chi phối. Tuy nhiên, việc thiết lập cơ chế kiểm soát “quyền lực” trong công ty nhằm dung hòa quyền lợi của nhóm cổ đông thiểu số mới là giải pháp để tăng cường sự giám sát “chéo”, duy trì sự ổn định trong điều hành, quản trị công ty trong dài hạn. Trước một số bất cập của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về quyền của cổ đông thiểu số, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có nhiều điều chỉnh kịp thời để tạo thuận lợi hơn cho cổ đông thiểu số thực hiện quyền của mình, cụ thể:

Thứ nhất, theo quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 115, Luật Doanh nghiệp năm 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Đây là quyền chung của cổ đông thiểu số và cổ đông khác; tuy nhiên, đối với nhóm cổ đông thiểu số, đây là nhóm quyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để nâng cao quyền lực của cổ đông. Với quy định này, các cổ đông thiểu số khi tập hợp từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên sẽ có quyền ứng của vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và có thể nắm được thông tin nội dung cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, tham gia quyết định, ý kiến một số vấn đề quan trọng của công ty.

Thứ hai, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng điều chỉnh việc giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu của cổ đông để thực hiện một số quyền năng nhất định. Đây là quy định mới của Luật Doanh nghiệp nhằm mở rộng việc bảo vệ quyền cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần. Bởi lẽ, trước đây Luật Doanh nghiệp năm 2014 đặt ra quy định, theo đó yêu cầu cổ đông, nhóm cổ đông phải nắm giữ từ 10% tổng số cổ phần trở lên trong tối thiểu 06 tháng mới được hưởng đặc quyền can thiệp vào quản trị và giám sát hoạt động của công ty. Cổ đông, nhóm cổ đông nắm giữ ít nhất 1% tổng số cổ phần trong thời gian tương tự được quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

Nhưng đến với Luật Doanh nghiệp năm 2020, theo quy định tại khoản 2, Điều 115, việc giảm tỷ lệ 10% nêu trên xuống còn 5% để cho phép các cổ đông như thế đã có quyền xem xét, tra cứu, trích lục số biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty; Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông; Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết.

Thông qua việc giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông trong việc thực hiện quyền của mình, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã mở rộng quyền của cổ đông thiểu số. Một mặt, trao thêm quyền cho các cổ đông trong việc chủ động tiếp cận các thông tin hoạt động của công ty để giúp họ giám sát công ty, cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ tốt hơn. Đồng thời tương thích với quyền cổ đông sở hữu 5% tại Luật Chứng khoán năm 2019 cũng như phù hợp với thông lệ quản trị trên thế giới khi đề cao quyền cổ đông thiểu số để các cổ đông yên tâm bỏ vốn đầu tư. Quy định mới này đã mở rộng quyền cho nhóm cổ đông thiểu số thông qua việc tạo cho họ sự chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

Thứ ba, cùng với thông lệ chung về bảo vệ cổ đông thiểu số, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bỏ quy định về thời hạn sở hữu cổ phần liên tục trong thời hạn 6 tháng khi cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần phổ thông trở lên đối với quyền đề cử người vào thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và quyền khởi kiện đối với người quản lý (Điều 166, Luật Doanh nghiệp năm 2020). Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, để thực hiện một số quyền của mình như đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường… cổ đông bắt buộc phải sở hữu liên tục cổ phần trong thời hạn 06 tháng với tỷ lệ sở hữu tối thiểu 5% cổ phần phổ thông hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty.

Quy định này làm hạn chế quyền của cổ đông mới khi không được thực hiện ngay quyền làm chủ của mình, thậm chí trong nhiều trường hợp, nhóm cổ đông cũ tranh thủ khoảng thời gian 06 tháng này để thực hiện một số ý đồ tư lợi như sửa đổi Điều lệ, quy chế nội bộ, thay đổi các nhân sự cấp cao để làm hạn chế quyền lực của cổ đông mới. Đây cũng chính là một trong những rào cản, khiến các doanh nghiệp ít mặn mà tham gia cổ phần hóa tại các doanh nghiệp nhà nước thời gian qua. Chính vì vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bãi bỏ việc yêu cầu cổ đông sở hữu cổ phần trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng là điều kiện tiên quyết để có thể thực thi một số quyền như: Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát; Quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc… Đây là cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quản trị tốt trên thế giới, thay vì giới hạn quyền lợi của cổ đông thiểu số để đảm bảo sự an toàn, ổn định của doanh nghiệp thì chính bản thân doanh nghiệp phải tự xây dựng hệ thống quy chế nội bộ để thích ứng với những rào cản, biến động của thị trường. Quy định này sẽ áp dụng với tất cả cổ đông công ty, không phân biệt tỷ lệ sở hữu cổ phần.

Thứ tư, xét về nhóm quyền thông tin; việc dựa trên Bộ Nguyên tắc OECD (bộ nguyên tắc quản trị công ty) [2], thông tin phải được công bố bao gồm: các kết quả hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty như báo cáo tài chính, các mục tiêu hoạt động của công ty, hay việc sở hữu của các cổ đông chính và có quyền biểu quyết…Nhóm quyền này giúp cổ đông thiểu số nắm bắt tình hình hoạt động của công ty và có những biện pháp nhằm kiểm tra, ngăn ngừa những hành vi vi phạm. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2020 còn bổ sung quy định về  tập hợp và cập nhật danh sách những người có liên quan đến công ty, thành viên hội đồng quản trị phải công khai các lợi ích liên quan đến mình với công ty (Điều 164, Luật Doanh nghiệp năm 2020). Với quy định này, pháp luật Việt Nam đã tạo điều kiện cho nhóm cổ đông thiểu số có thể kiểm soát được giao dịch giữa hội đồng quản trị với những người liên quan, giúp cho mọi giao dịch được trở nên minh bạch và công bằng hơn.

Thứ năm, Luật Doanh nghiệp năm 2020 còn mở rộng thời hạn lập danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông và thời hạn gửi thông báo mời họp. Theo đó, khoản 1, Điều 141, Luật Doanh nghiệp năm 2020, việc quy định danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông được lập không quá 10 ngày trước ngày gửi giấy mời họp nếu Điều lệ công ty không quy định thời hạn ngắn hơn. khoản 1, Điều 143, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về việc thông báo mời họp đến tất cả cổ đông trong danh sách cổ đông có quyền dự họp chậm nhất là 21 ngày trước ngày khai mạc nếu Điều lệ công ty không quy định thời hạn dài hơn (Trước đây, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về vấn đề này là chậm nhất 10 ngày).

Nhìn chung, việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số là một vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm, trong đó có cả Việt Nam. Gần đây, với những quy định mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có sự điều chỉnh nhằm hướng đến việc đảm bảo quyền và lợi ích cho cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần. Những điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp năm 2020 được đánh giá là đòn bẩy quan trọng trong việc bảo đảm thực thi quyền của cổ đông thiểu số. Tuy nhiên, việc thực thi các quyền này trên thực tế vẫn chưa đạt hiệu quả cao và triệt để bởi lẽ việc thực thi các quy định này còn phụ thuộc vào nhận thức của chính cổ đông thiểu số cũng như tầm nhìn của bản thân mỗi doanh nghiệp. Đây là một vấn đề quan trọng, vì vậy cần phải quan tâm để đưa ra những giải pháp tốt nhất nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần; có như vậy mới tạo thêm động lực để thu hút các nguồn vốn đầu tư vào doanh nghiệp.

Thực trạng và một số kiến nghị nhằm bảo đảm hiệu quả trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số tại Việt Nam

Hiện nay, pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số đang dần được chú trọng và quan tâm, điều đó thể hiện sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, kinh doanh, thương mại và kinh tế. Nhìn chung, cổ đông thiểu số ở Việt Nam đã có một quy định nhằm bảo vệ quyền của họ, đảm bảo tính có căn cứ và cơ sở pháp lý vững vàng bảo vệ họ một cách hiệu quả hơn. Xuyên suốt quá trình phát triển của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số, nhận thấy hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có nhiều quy định mới nhằm mở rộng quyền của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần như: nhóm quyền về tài sản, nhóm quyền quản trị công ty (quyền đề cử thành viên Hội đồng quản trị Ban kiểm soát), nhóm quyền thông tin, nhóm quyền phục hồi quyền lợi.

Điều này cho thấy, việc hoàn thiện hành lang pháp lý tại Việt Nam về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số là thực sự cần thiết, giúp các đối tượng này yên tâm làm việc và đầu tư kinh doanh phát triển kinh tế tại Việt Nam, đồng thời thu hút và tận dụng được những tiềm năng kinh tế trong và ngoài nước nhằm phát triển thị trường kinh doanh ở nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực đã làm được thì vẫn còn một số thiếu sót, bất cập trong việc đảm bảo quyền của cổ đông thiểu số. Cụ thể, trong nhóm quyền tài sản gồm quyền nhận cổ tức, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, quyền nhận một phần tài sản khi công ty giải thể… Đây là một nhóm quyền thiết yếu của các cổ đông khi đã góp vốn vào công ty. Do đó, theo quy định pháp luật hiện hành, các cổ đông thiểu số cũng như các cổ đông khác đều có nhóm quyền tài sản này như nhau.

Tuy nhiên, trên thực tế thì quyền tài sản của cổ đông thiểu số rất dễ bị xâm phạm bởi Luật Doanh nghiệp hiện hành chưa quy định về giá cũng như điều kiện bán cổ phần cho các cổ đông trong công ty. Do đó, nhìn từ góc độ khách quan nhận thấy, đây là một vấn đề quan trọng, là kẻ hở để các cổ đông lớn, cổ đông nắm giữ nhiều cổ phần trong công ty dễ dàng hợp tác với nhau. Bên cạnh đó, liên quan tới nhóm quyền phục hồi quyền lực của cổ đông thiểu số – quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định của Đại hội đồng khi cho rằng có sự vi phạm trong tới điều lệ công ty. Tuy nhiên, từ thực tiễn thực thi quyền này, cổ đông thiểu số rất ít khi sử dụng. Hơn thế nữa, trong thủ tục giải quyết tại Tòa án, việc xác định yêu cầu hủy quyết định của Đại hội đồng cổ đông là một tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng hay chỉ yêu cầu về kinh doanh, thương mại theo thủ tục tố tụng đối với việc dân sự vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ…

Do đó, để cải thiện mối quan hệ này, cần phải xuất phát từ hai phía cả cổ đông thiểu số và cổ đông lớn – Ban điều hành doanh nghiệp đều phải nhận thức đúng về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty, dù là lớn hay thiểu số. Quy định trong Điều lệ của mỗi công ty cần phải cụ thể, rõ ràng và có tính khả thi hơn. Đây là một vấn đề còn mới ở nước ta, vì vậy cần phải đẩy mạnh quá trình nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp pháp lý và giải pháp chung có giá trị thực tế cao, phù hợp trong quá trình áp dụng và ứng dụng tại Việt Nam.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho nhóm cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần, chúng ta cần đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình tại Việt Nam, điển hình như một số giải pháp sau:

Thứ nhất, bổ sung thêm nội dung liên quan đến trách nhiệm của người quản lý. So với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bổ sung thêm khoản 2, Điều 165: “Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba”. Tuy nhiên, để thêm tính chặt chẽ trong chế độ chịu trách nhiệm của người quản lý công ty, chúng ta có thể bổ sung thêm quy định: “Người quản lý doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu trong trường hợp cổ đông khởi kiện người quản lý doanh nghiệp”.

Thứ hai, sửa đổi quy định về khởi kiện người quản lý. khoản 2, Điều 166, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông khởi kiện nhân danh công ty sẽ tính vào chi phí của công ty, trừ trường hợp thành viên khởi kiện bị bác yêu cầu khởi kiện”. Tuy nhiên, chúng ta nên xem xét sửa đổi quy định này, như sau: “Trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện tương ứng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông khởi kiện nhân danh công ty sẽ tính vào chi phí của công ty”.

Thứ ba, tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ. Cần phải tăng cường việc xem xét yêu cầu công ty cổ phần, nhất là công ty đại chúng, cần phải công bố báo cáo của ban kiểm soát cùng với báo cáo tài chính. Bởi thông tin báo cáo của ban kiểm soát có tầm quan trọng không kém các báo cáo tài chính. Đồng thời, bên cạnh các quy định pháp luật, thì điều lệ công ty, nội bộ công ty cần phải quy định chặt chẽ hơn trong việc tăng cường giáo dục chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp cho Kiểm soát viên để tăng thêm tính minh bạch, thể hiện được tính độc lập và chính xác trong vấn đề thực thi nhiệm vụ, báo cáo của ban kiểm soát.

Thứ tư, hoàn thiện các cơ chế pháp lý khác liên quan nhằm bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần. Bên cạnh việc hoàn thiện các chế định trong pháp luật về doanh nghiệp thì cần phải hoàn thiện các quy định khác và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cơ quan đăng ký kinh doanh.

Thứ năm, cần nâng cao vai trò và tiếng nói của các cổ đông thiểu số bằng cách bổ sung thêm điều khoản bảo đảm quyền lợi của nhóm cổ đông thiểu số. Việc bổ sung các căn cứ, điều khoản trong điều lệ của công ty sẽ góp phần thúc đẩy, góp phần tạo điều kiện để cổ đông thiểu số thể hiện tiếng nói và tạo cho sức mạnh tiếng nói thêm phần trọng lượng. Thông qua tiếng nói, họ không chỉ có thể bảo vệ mình mà còn có thể đưa ra những vấn đề vướng mắc của công ty, qua đó góp phần hạn chế những hành vi vi phạm của cổ đông lớn. Đồng thời, điều lệ công ty sẽ là những căn cứ, chứng cứ để bảo vệ họ trong những trường hợp cần thiết nhằm tránh tình trạng chèn ép, xâm phạm quyền lợi của nhóm cổ đong thiểu số trong công ty cổ phần.

Thứ sáu, về phía cổ đông thiểu số. Mỗi cổ đông thiểu số cần đẩy mạnh hơn nữa việc tự ý thức trong việc chủ động bảo vệ mình là điều vô cùng quan trọng như: các cổ đông thiểu số có thể thực hiện quyền cổ đông thông qua việc tham dự hội nghị cổ đông, phát biểu ý kiến tại cuộc họp; đồng thời cần nghiên cứu, tìm hiểu về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trước khi tham gia vào công ty cổ phần, vấn đề này có thể tham khảo các chuyên gia hay thuê luật sư tư vấn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi tham gia góp vốn vào công ty cổ phần. Quan trọng hơn hết là các cổ đông thiểu số cần liên kết lại để tự bảo vệ mình. Việc một cổ đông thiểu số nhỏ trong công ty nên vị trí và sức ảnh hưởng trong công ty cổ phần sẽ rất nhỏ, vì vậy, để bảo vệ các quyền cơ bản của  mình trong quá trình tham gia góp vốn kinh doanh tại công ty cổ phần thì các cổ đông thiểu số nên liên kết, tập hợp với nhau để tạo thành “nhóm cổ đông” nhằm thực hiện các quyền mà pháp luật đã trao cho họ, thông qua đó ít nhiều sẽ thể hiện được tiếng nói của mình trong công ty. Do vậy, sẽ kết hợp với các quy định của pháp luật mới trong tương lai sẽ phát huy được đúng vai trò và đảm bảo được quyền lợi xứng đáng của mình trong công ty.

Qua những phân tích và đánh giá trên, theo quan điểm của chúng tôi, vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần là một vấn đề mới và quan trọng. Điều đó thể hiện sự cần thiết, sự quan tâm của pháp luật và xã hội trong việc bảo vệ, thúc đẩy và tiến tới bảo đảm quyền của họ, góp phần tạo ra một môi trường làm việc kinh doanh lành mạnh, phù hợp và phát triển bền vững. Đặc biệt, việc bảo đảm quyền của cổ đông thiểu số góp phần hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tạo ra sự bình đẳng, tính có căn cứ trong môi trường của công ty cổ phần. Từ đó, cho thấy sự cần thiết và hoàn thiện của pháp luật Việt Nam trong vấn đề bảo vệ quyền lợi của các thành viên yếu thế, thiểu số trong các loại hình doanh nghiệp, trong đó có công ty cổ phần tại Việt Nam.

Tiến sĩ THỊ PHƯỢNG

GV Khoa Luật, Trường Đại học Công Đoàn

Chuyên gia pháp lý – Công ty luật ThinkSmart

 NGUYỄN ANH DŨNG – NGUYỄN THẾ TÙNG

Công ty luật ThinkSmart, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội

[1] PGS.TS. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật Thương mại (Phần chung và thương nhân), NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013, tr229.

[2] Bộ Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD được Hội đồng Bộ trưởng OECD phê chuẩn lần đầu vào năm 1999 và từ đó trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

3. Luật Chứng khoán năm 2019.

4. Luật Doanh nghiệp năm 2014.

5. Luật Doanh nghiệp năm 2020.

6. Luật Thương mại năm 2005.

7. PGS.TS. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật Thương mại (Phần chung và thương nhân), NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, 2013.

8. TS Bùi Ngọc Cường (chủ biên), giáo trình Luật Thương mại tập 1, NXB Giáo dục, 2008

9. Đỗ Thái Hán, Luận văn Thạc sĩ, Bảo vệ Cổ đông thiểu số trong Công ty Cổ phần ở Việt Nam, năm bảo vệ: 2012, truy cập 11h19 ngày 13/06/2021.

https://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/5688/1/00050001482.pdf

10. OECD Guidelines on Corporate Governance of State – Owned Enterprise (Hướng dẫn của OECD về Quản trị công ty trong Doanh nghiệp Nhà nước), truy cập 11h06 ngày 13/06/2021.

https://www.oecd.org/daf/ca/SOEGuidelinesVietnamese.pdf

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.