TƯ DUY PHÁP LÝ
Phần 1: Khái niệm tư duy pháp lý
1.1 Khái niệm của “Tư duy pháp lý”
Theo nghĩa rộng: Là sản phẩm hoạt động trí tuệ của con người hiện thực hóa dưới dạng khái niệm, phán đoán, lý luận về các vấn đề pháp lý (như đổi mới tư duy về hiến pháp, kiểm soát quyền lực, quyền con người).
Theo nghĩa hẹp: Là cách thức, thủ pháp, kỹ thuật lập luận để tìm ra giải pháp cho một tình huống pháp lý cụ thể phù hợp với luật lệ và lẽ phải. Đây là một khoa học độc lập (Anh gọi là Legal reasoning, Đức gọi là Methodenlehre) nghiên cứu về các quy luật tư duy đúng đắn trong hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật.
1.2 Bản chất và đối tượng áp dụng
Tư duy pháp lý trước hết phải là tư duy lý tính, trung lập, không định kiến và không bị cảm xúc chi phối.
Không chỉ dành cho giới luật gia: Tư duy pháp lý dành cho tất cả những ai phải vận dụng luật pháp để giải quyết tình huống cuộc sống (Ví dụ: Việc nhà nhiếp ảnh chủ động xin chữ ký đồng thuận của cha mẹ trước khi chụp ảnh em bé dân tộc mặc thổ cẩm để làm tư liệu triển lãm, nhằm phòng ngừa rủi ro tranh chấp hình ảnh và bảo vệ quyền trẻ em.).

Phần 2: Kỹ thuật đặt câu hỏi và lập luận đúng – gọn – rõ
Tư duy pháp lý vận hành thông qua hai bước quan trọng mang tính biện chứng và không thể tách rời: (1) Hoạt động thứ nhất là suy nghĩ, đặt các câu hỏi pháp lý đi “trúng vấn đề” và (2) Hoạt động thứ hai là trình bày, lập luận một cách đúng, gọn, rõ để thuyết phục người nghe về mặt lý trí.
2.1. Hệ thống 4 tầng bậc câu hỏi pháp lý
Để giải mã một vụ việc phức tạp, chủ thể tư duy phải bóc tách sự kiện thông qua các dạng câu hỏi:
Câu hỏi thực tế: Câu hỏi thực tế là những câu hỏi được đặt ra có ý nghĩa pháp lý nhằm làm sáng tỏ sự thật đã diễn ra. Các câu hỏi thực tế thường là: Ai? Khi nào? Ở đâu? Như thế nào? Tại sao? Những câu hỏi này có ý nghĩa, giá trị pháp lý vì trả lời được nó các khía cạnh pháp lý đầy đủ của sự kiện sẽ dần được sáng tỏ. Luật sư trong công việc hành nghề muốn làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc phải giải quyết, cũng như tìm ra các tình tiết bảo vệ hợp pháp của thân chủ cũng phải suy nghĩ và chọn lọc những câu hỏi thực tế.
Câu hỏi tìm luật: Câu hỏi tìm luật là câu hỏi nhằm xác định quy tắc pháp lý nào sẽ áp dụng cho tình huống pháp lý đang phải giải quyết. Thông thường sau khi nghiên cứu tình huống pháp lý thì câu hỏi tiếp theo đặt ra sẽ là 1) Với tình huống này thì lĩnh vực pháp luật nào điều chỉnh? 2) Có quy phạm pháp luật nào đang có hiệu lực không? 3) Nếu không có quy phạm pháp luật thì có tập quán không? 4) Có vụ việc nào tương tự đã từng được giải quyết chưa….)
Câu hỏi pháp lý mấu chốt: Khác với câu hỏi thông thường, câu hỏi pháp lý mấu chốt cấu thành từ 3 yếu tố liên hệ với nhau: (1) Sự kiện pháp lý mấu chốt, (2) Luật áp dụng và (3) trăn trở về sự kết hợp giữa hai yếu tố trên. Việc tìm ra câu hỏi này đòi hỏi phải tách bạch từng sự kiện, lọc ra điều quan trọng nhất quyết định bản chất vụ việc.
Câu hỏi kết luận: Xác định hệ quả cuối cùng (Ai phải bồi thường? Có vi phạm không?).
Ví dụ tổng thể:
Nhánh sự kiện 1 (Xe mới đứt phanh): Trương Tam bỏ ra 80 tỷ VNĐ để mua một chiếc siêu xe hạng sang tại đại lý. Anh ta vừa lái xe ra khỏi cửa hàng thì hệ thống phanh điện tử thông minh bị lỗi kỹ thuật nghiêm trọng từ nhà sản xuất. Cứ mỗi lần Trương Tam đạp phanh, xe không những không giảm tốc mà còn tăng vọt tốc độ. Khi thấy phía trước có 2 người đi bộ, Trương Tam cuống cuồng đạp lút phanh nhưng xe lao thẳng tới đâm tử vong cả 2 người.
Nhánh sự kiện 2 (Xe cũ nát đứt phanh): Trương Tam mua lại một chiếc xe ô tô cũ nát, rỉ sét với giá chỉ 2 triệu VNĐ vì xe đã chạy được hàng triệu km. Trương Tam hớn hở lái chiếc xe đó ra đường mà không hề đưa đi đăng kiểm hay kiểm tra tình trạng an toàn kỹ thuật. Đang đi thì hệ thống phanh bị hỏng, còi hỏng, ghế ngồi sụp xuống, kính cửa kính kẹt không hạ xuống được. Phía trước có một nhóm người đang đi bộ, Trương Tam gào thét đến khản cổ nhưng xe không dừng được, đâm tử vong các nạn nhân.
Dưới góc độ Tư duy pháp lý, chúng ta sử dụng Hệ thống 4 tầng bậc câu hỏi pháp lý để bóc tách và giải mã bản chất lỗi của toàn bộ vụ việc phức tạp này như sau:
- Câu hỏi thực tế hệ thống câu hỏi nhằm làm sáng tỏ sự thật: Trương Tam là ai? Hành vi điều khiển phương tiện diễn ra vào thời gian nào, ở đâu? Tình trạng kỹ thuật và pháp lý của hai chiếc xe trong hai trường hợp có gì khác nhau (Một chiếc siêu xe mới tinh giá 80 tỷ VNĐ vừa xuất xưởng đối chiếu với một chiếc xe nát giá 2 triệu VNĐ đã hết niên hạn sử dụng)? Hành vi của Trương Tam trước khi vận hành hai chiếc xe đó diễn ra như thế nào (Một bên tin tưởng vào chứng nhận chất lượng của đại lý; một bên hoàn toàn cẩu thả, không kiểm tra an toàn kỹ thuật xe trước khi ra đường)?
- Câu hỏi Tìm luật hệ thống câu hỏi nhằm xác định quy tắc áp dụng: Vụ việc này do lĩnh vực pháp luật nào điều chỉnh (Luật Giao thông đường bộ, Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay Bộ luật Hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)? Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành như thế nào về “Sự kiện bất khả kháng” (Điều 156 Bộ luật Dân sự: sự việc xảy ra khách quan, không thể thấy trước và không thể khắc phục được)? Tiêu chuẩn pháp lý để phân biệt giữa “Rủi ro được xã hội cho phép” (vận hành phương tiện giao thông đúng quy chuẩn kỹ thuật) và “Rủi ro bị xã hội nghiêm cấm” (đưa phương tiện không đảm bảo an toàn vào lưu thông) là gì?
- Câu hỏi Pháp lý Mấu chốt bóc tách tư duy chuyên sâu:
Ở nhánh sự kiện 1: Trương Tam tạo ra một rủi ro khi lái xe, nhưng đó là “rủi ro được xã hội cho phép” vì xe mới, đúng quy chuẩn. Việc phanh lỗi hệ thống điện tử làm xe tăng tốc là sự việc khách quan, tại thời điểm đó anh ta có thấy trước được không? Không. Có tránh được không? ………………
Nhánh sự kiện 2: Trương Tam tự ý đưa một chiếc xe nát tươm, không bảo đảm an toàn ra đường mà không kiểm tra. Rủi ro này do anh ta chủ động tạo ra và là “rủi ro bị xã hội nghiêm cấm”. Do đó, khi hậu quả đứt phanh xảy ra, đây là Sự kiện có lỗi (Lỗi vô ý do cẩu thả).
Câu hỏi pháp lý mấu chốt hành vi: “Việc chủ thể vận hành một phương tiện giao thông vi phạm nghiêm trọng các quy chuẩn an toàn kỹ thuật luật định (tự tạo ra rủi ro bị xã hội nghiêm cấm) có làm triệt tiêu bản chất của ‘Sự kiện bất khả kháng’ và cấu thành ‘Lỗi vô ý’ trong việc chịu trách nhiệm pháp lý hình sự và dân sự hay không?”
- Câu hỏi kết luận hệ quả pháp lý cuối cùng đối với từng trường hợp:
Kết luận 1: Trong trường hợp siêu xe 80 tỷ VNĐ bị lỗi kỹ thuật đột ngột, hành vi của Trương Tam được pháp luật Việt Nam ghi nhận là không có lỗi vì gặp sự kiện bất khả kháng. Trương Tam không phải chịu trách nhiệm hình sự và không phải bồi thường dân sự (Trách nhiệm bồi thường thuộc về nhà sản xuất/đại lý bán xe lỗi).
Kết luận 2: Trong trường hợp xe nát 2 triệu VNĐ đứt phanh, Trương Tam đã cấu thành tội phạm (Lỗi vô ý phạm tội). Anh ta bắt buộc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam, đồng thời phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về tính mạng cho gia đình các nạn nhân theo Bộ luật Dân sự.
2.2 Nghệ thuật lập luận dựa trên sự phân biệt “Vỏ” và “Ruột”
Nếu như nghề y, bác sĩ có các máy móc trợ giúp, người học luật không có gì khác ngoài bộ óc để phân tích. Người trình bày giỏi không hẳn chỉ vì những gì họ nói, mà vì họ đã phân tích vấn đề trước khi nói. Nếu muốn người khác nghe, bạn phải thuyết phục được người khác về mặt lý trí. Chỉ những lập luận sắc sảo, chính xác mới có sức thuyết phục, cảm hóa người nghe.
Đặc biệt, ta cần phải biết phân biệt các sự kiện theo bản chất (cái ruột) và tên gọi của chúng (cái vỏ), phân biệt cái nào chính, cái nào phụ, cái nào là nguyên nhân, cái nào là hậu quả, cái nào là gốc, cái nào là ngọn… Tôi lấy ví dụ: “Cô Lan có ba vòng đo lần lượt là 90, 80, 88 (cô ấy – cái ruột). Ở nhà tên cô là Cô Ba, ở trường tên là Hồng, nay đi làm tên cô ấy là Lan (cái vỏ). Bạn thấy bản chất hay cái ruột là một (tĩnh); tên gọi thì có nhiều (động). Bạn suy luận mà dựa trên “cái động” thì đễ mất phương hướng, nói cái này thì quàng sang cái khác. Người nghe không hiều! Khi phân biệt sự kiện nào là chính hay phụ thì phải gắn nó với một gốc nào đó. Thí dụ mẹ của bạn là chính với bạn, nhưng là phụ đối với tôi.”
Phần 3: Phương pháp luận và kỹ thuật giải thích quy tắc pháp lý
3.1. Hai phương pháp tư duy nền tảng
Tôi cho rằng: “Phương pháp tư duy pháp lý thì có nhiều, người này dùng cái này, người kia dùng cái khác; nhưng nó giúp bạn tìm ra giải pháp khó bị đối phương tấn công nhất vì nó được làm theo phương pháp luận lý học”. Tư duy pháp lý là một loại hình của tư duy, vì vậy nó cũng cần phải tuân thủ đầy đủ những quy luật cơ bản của tư duy logíc hình thức. Những quy luật này cũng chính là những yêu cầu cần thiết của người học luật trong hoạt động nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp. Các quy luật cơ bản của tư duy bao gồm: luật đồng nhất, luật cấm mâu thuẫn, luật triệt tam, luật lý do đầy đủ cần phải được tuân thủ tuyệt đối trong quá trình tư duy các vấn đề pháp lý.
Có nhiều phương pháp tư duy trong lĩnh vực pháp lý (các phương pháp tư duy cụ thể sẽ được trình bày ở những chương tiếp theo), nhưng cơ bản nhất mà người học luật cần nắm được đó là tư duy dựa trên luật và tư duy dựa trên vụ việc. Hai phương pháp này được sử dụng với tần suất nhiều nhất, phổ biến nhất trong lĩnh vực pháp lý. Cụ thể:
Thứ nhất, tư duy dựa trên luật: Sử dụng phương pháp diễn dịch (Tam đoạn luận, IRAC) đi từ quy tắc chung (mệnh đề lớn) đến kết luận cụ thể cho một tình huống cụ thể. Phương pháp diễn dịch nói chung cho chúng ta cách tiếp cận vấn đề dựa trên luật. Khi áp dụng trên thực tế, ta thường xây dựng một mệnh đề lớn đó là quy tắc pháp lý mang tính khái quát, trừu tượng đang có hiệu lực và một mệnh để nhỏ đó chính là sư tông hợp những tình tiết quan trọng của vụ việc mà ta đang giải quyết thoả mãn những điều kiện mà mệnh đề chính đưa ra. Theo tiêu chí cái gì đúng cái toàn thể thì cũng đúng cái bộ phận. Nếu hai mệnh đề mà chúng ta xây dựng là chân thực thì câu kết luận đưa ra chắc chắn cũng chân thực.
Áp dụng cho vụ án: Trộm 3 con chim chào mào của Giám đốc Sở (Quảng Nam). Phân tích theo cấu trúc lý luận Tam đoạn luận
Mệnh đề lớn (Quy tắc chung của Luật): Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự Việt Nam thời điểm đó, người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội trộm cắp tài sản”.
Mệnh đề nhỏ (Tình tiết thực tế): Bị cáo trong vụ án đã đột nhập vào nhà một Giám đốc Sở tại Nghệ An để trộm 3 con chim chào mào. Theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, 3 con chim chào mào này (do là chim quý, hót hay, đột biến) có tổng giá trị thị trường lên đến 9.000.000 đồng (vượt xa hạn mức tối thiểu 2 triệu đồng). (Điểm mấu chốt là hãy đăth ra câu hỏi “Chim” trong tình huống tài có được coi là tài sản không? Nêu ra 2 thuộc tính của tài sản…………)
Kết luận pháp lý: Chiếu theo tiêu chí cái gì đúng với toàn thể sẽ đúng với bộ phận, hành vi trộm 3 con chim chào mào của bị cáo đã thỏa mãn hoàn toàn cấu thành định tội của mệnh đề lớn. Do đó, kết luận bắt buộc là bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đối diện với khung hình phạt theo quy định.
(Vụ việc trên thực tế: Khi công an phá xong vụ án, là bị hại ông Giám đốc Sở đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự với thủ phạm. Ông nói: “Cơ quan điều tra hỏi có đề nghị bồi thường dân sự gì không nhưng tôi bảo không. Tôi đề nghị công an cảnh cáo răn đe, để họ không tái phạm”,
Phía công an ghi nhận thiện chí của ông Giám đốc sở với hai nghi can nhưng cho hay với tội trộm cắp tài sản thì đây không phải là vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Vì thế, hai kẻ trộm phải bị xử lý hình sự.)
Thứ hai, tư duy dựa trên vụ việc: Sử dụng tư duy so sánh tương đồng hoặc tương phản để kéo một tình huống chưa có luật điều chỉnh về áp dụng quy tắc của một tình huống tương tự đã được giải quyết trước đó
Áp dụng cho ví dụ: Chẳng hạn, thân chủ của bạn được yêu cầu bảo vệ, ông ta nhận được trát yêu cầu hầu tòa vì đã lái xe scooter [xe tay ga chậm] mà không đội mũ bảo hiểm. Sau khi nghiên cứu bạn thấy rằng không có đạo luật nào quy định cụ thể về vấn đề này cả. Tuy nhiên có hai án lê mà có thể viện dẫn để đưa ra kết luận. Một vụ án xác lập quy tắc người lái xe mô-tô phải đội mũ bảo hiểm, vụ án kia thì xác lập quy tắc người lái xe đạp không phải đội mũ bảo hiểm. Ở đây hai phương pháp quy nạp hay diễn dịch không giúp ích gì được ta. Bạn phải dựa vào nguyên tắc so sánh tương đồng để thuyết phục thẩm phán rằng: quy tắc không phải đội mũ bảo hiểm của xe đạp phải được áp dụng tương tự đối với xe scooter.
Để bảo vệ thân chủ của mình, bạn phải lập luận. Sức mạnh của sự lập luận chính là bạn phải đưa ra các tiêu chí để chứng minh rằng lái một chiếc xe scooter thì cũng giống như lái một chiếc xe đạp mà thôi.
Tiêu chí 1 về tốc độ: Xe scooter không thể đi nhanh như một chiếc xe máy, mà tốc độ chỉ bằng hoặc nhanh hơn xe đạp bình thường không nhiều.
Tiêu chí 2 về loại đường mà phương tiện được lưu thông: Xe scooter và xe đạp đều không được phép lưu thông trên đường cao tốc. Chỉ có xe máy mới được phép lưu thông trên đường cao tốc.
Tiêu chí 3 về mức độ nguy hiểm gây ra: Xe scooter và xe đạp vì tốc đô đi chậm nên không thể gây nguy hiểm nhiều cho chủ phương tiện và người đi đường như xe máy. Từ những tiêu chí trên bạn rút ra nhận định rằng xe đạp và xe scooter có nhiều điểm tương đồng hơn với xe máy.
Từ đó đưa ra kết luận rằng thân chủ của bạn không phải đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe scooter.
Đến đây bạn bắt đầu thắc mắc tại sao chỉ một ví dụ đơn lẻ có thể giá trị đối với một vụ việc khác, trong khi phương pháp quy nạp từ nhiều vụ việc mà vẫn có thể dẫn đến một nhận định tổng quát sai lầm.
Không giống khoa học tự nhiên, hoạt động áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tư duy. Trở lại ví dụ trên, đối thủ của bạn cũng có thể lập luận rằng một chiếc xe scooter thì giống với chiếc xe máy hơn, bởi vì cả hai đều khởi đông nhanh và có gắn động cơ. Sự so sánh này có thể tác động tới thẩm phán mạnh hơn là lập luận bạn đưa ra.
3.2. Tranh luận giữa “Hình thức thể hiện” và “Mục đích” của luật
Các quy tắc pháp lý thường mang tính khái quát và trừu tượng cao, dẫn đến việc người học luật không thể thoát ly khỏi quy tắc pháp lý, đặc biệt là các quy phạm pháp luật với sự xuất hiện của các thuật ngữ pháp lý. Trong quy phạm pháp luật có những thuật ngữ mang tính mô tả (ví dụ: thể nhân) hoặc mang tính quy tắc (ví dụ: tương xứng, trong trường hợp cần thiết, trái với thuần phong mỹ tục…) luôn đòi hỏi phải có sự giải thích, đánh giá, và đo lường.
Mục đích và hình thức thể hiện của quy tắc pháp lý là hai vấn đề khác nhau. Mục đích của quy tắc pháp lý thể hiện khuynh hướng thiên về bên nào, bảo vệ ai, tại sao ban hành, ý định của nhà làm luật như thế nào, còn hình thức thể hiện của luật là những gì đã thể hiện ra bên ngoài bằng câu chữ, con số cụ thể.
Giải thích theo hình thức (Văn phạm): Là những gì đã thể hiện ra bên ngoài bằng câu chữ, con số cụ thể. Căn cứ vào đúng hình thức của quy tắc pháp lý để áp dụng đòi hỏi chủ thể áp dụng phải thực hiện đúng như quy định, không được phép suy diễn hoặc tự ý tạo ra một phạm vi áp dụng rộng hơn quy tắc pháp lý đã xác định.
Giải thích theo mục đích: Thể hiện khuynh hướng thiên về bên nào, bảo vệ ai, tại sao ban hành, và ý định của nhà làm luật như thế nào. Giải thích theo mục đích là ưu tiên bảo vệ lẽ phải và giá trị cốt lõi đằng sau điều luật.
Ví dụ điển hình: Năm 2017, Ludwig Loewenstein (L) bố đẻ của cô con gái 8 tuổi là Annabella (A) đi du lịch đến tiểu bang B bằng tàu hỏa. Trến chuyến tàu rất đông thiếu chỗ ngồi, L nhìn thấy một khoang trống có ghi “Mutter mit Kind-Abteil” có nghĩa là khoang dành cho bà mẹ và trẻ nhỏ. Khoang này không có ai ngồi và vì vậy L đã đưa con gái của mình là A vào đó ngồi. Một lúc sau người kiểm tra vé đến và yêu cầu L rời khỏi khoang này vì khoang này chỉ dành cho bà mẹ và trẻ nhỏ. L phản đối và cho rằng anh ta được phép ngồi vì cho rằng quy định mẹ và trẻ nhỏ là không rõ ràng. Chẳng có quy định nào nói rằng mẹ phải là phụ nữ cả. Vậy ai đúng?
Câu hỏi đặt ra ở đây là “mẹ” (Mutter) được hiểu ở đây là gì? đó là một người phụ nữ, là Người đi cùng hay có thể là bất cứ ai đi cùng trẻ nhỏ? Khi Đức đã chấp nhận hôn nhân đồng tính thì “người mẹ” có thể là một người hình thức bên ngoài là Nam giới nhưng thực chất là một bên trong quan hệ hôn nhân đồng tính và mang theo con nuôi của mình không? Nếu đứng ở vị trí người cha trong vụ việc trên ta có thể lập luận theo hướng bảo vệ quyền lợi của trẻ em để phản biện. L mang theo một em bé 8 tháng tuổi và khoang trống đó trước hết là dành cho em nhỏ.
Nếu dựa vào lý thuyết mục đích bảo vệ đứa trẻ thì bất kỳ ai là người đi cùng đứa trẻ đó không quan trọng. Từ ngữ trong quy định đó không rõ ràng và có thể được hiểu là trẻ em và người đi cùng. Theo Điều 3 khoản 2 và khoản 3 của Luật cơ bản Đức thì nam nữ là bình quyền nhau. Vì vậy việc đối xử không bình đẳng ở đây là trái pháp luật. Nếu đứng ở vị trí người soát vé có thể lập luận theo hướng từ ngữ trong quy định và theo hướng bảo vệ quyền lợi của bà mẹ. Từ ngữ của quy định nêu rất rõ “Mutter mit Kind-Abteils” tức là khoang dành cho bà mẹ và em bé. Sở đĩ quy định bà mẹ vì bà mẹ mới là người yếu thế trong xã hội cần được bảo vệ. Việc bảo vệ bà mẹ không vi phạm gì nguyên tắc bình đẳng cả.
Nếu đứng ở phía trung lập có thể xử lý theo hướng dung hòa. L có thể vẫn được ngồi đó, vì anh ta vào sớm hơn hoặc anh ta có thể ngồi đến khi phải nhường chỗ cho bà mẹ cùng em nhỏ khác nữa bước vào. Hoặc người soát vé có thể hỏi ý kiến người cùng đi tàu về việc có cho anh ta ở lại trong khoang bà mẹ trẻ em không để họ không tức giận. Cách giải quyết này cũng là việc cân nhắc lợi ích để đưa ra phương án giải quyết phù hợp nhất.
Tóm lại, nếu theo hình thức thể hiện của luật thì rõ ràng quy định như thế nào thì phải thực hiện đúng như vậy, tức là trên khoang ghi rõ bà mẹ và trẻ em thì chỉ có hai đối tượng đó được vào khoang này ngồi. Tuy nhiên nếu xét theo khía cạnh mục đích của luật, tức là quy định này đặt ra để bảo vệ trẻ em chứ không phải người đi cùng thì người đàn ông bế theo em bé sơ sinh 9 tháng tuổi đó có thể được xem xét để ngồi vào khoang này, tất nhiên có những điều kiện để không ảnh hưởng đến những bà mẹ và trẻ em khác trên khoang đó.
3.3. Phản biện “Điểm mờ”, những “Điểm thiếu rõ ràng” của quy tắc pháp lý
Những quy tắc pháp lý thường mang tính khái quát hóa, tính trừu tượng hóa cao. Một quy tắc pháp lý không đề cập đến một người, một hành vi, một thời điểm cụ thể mà liên quan đến nhiều người, thực hiện những hành vi khác nhau và ở những thời điểm khác nhau.
Nhà triết học pháp luật người Anh Herbert Lionel Adolphus Hart (1907-1992) đã phân chia một quy tắc pháp lý thành hai bộ phận:
Bộ phận cốt lõi: Là vùng nội dung đã rõ ràng, việc đúng hoặc sai được trả lời khá dễ dàng.
Bộ phận có thể gây tranh cãi (điểm mờ): Là những từ ngữ trong luật mà thực tế khi áp dụng có thể có những cách hiểu khác nhau, buộc phải dựa vào tính thuyết phục của sự tranh luận để làm sáng tỏ. Hầu hết các vụ việc tranh chấp trên thực tế đều rơi vào bộ phận “điểm mờ” này.
Ví dụ: Giả sử có một quy định chung là “cấm xe cộ ở trong công viên” Những gì được coi là xe cộ? Xe máy, ô tô, xe buýt, xe tải chắc chắn là thuộc về xe cộ nói chung, đây chính là bộ phận cốt lõi của quy định này.
Bộ phận có thể gây tranh cãi của quy định này chính là trên thực tế có những loại chưa rõ có được đưa vào nhóm vehicles hay không, chẳng hạn như xe đồ chơi, xe trượt pa-tanh, xe ô tô đồ chơi, xe đẩy trẻ em, ván trượt có gắn bánh trượt, xe đạp. Những loại này có bị cấm ở trong công viên không?
Đến đây chúng ta lại phải nghiên cứu xem đằng sau quy định này ẩn chứa mục đích gì?
Nếu mục đích của nó là để tạo ra sự an toàn cho người đi bộ thì xe đẩy trẻ em có thể được phép, còn xe đạp thì có thể không.
Nếu mục đích của nó là hạn chế tiếng ồn trong công viên thì có thể cả xe đạp, ván trượt có gắn bánh trượt hay xe đẩy trẻ em đều có thể được cho phép đi lại trong công viên.
Nếu mục đích của nó là để bảo vệ môi trường trong công viên thì có thể xe đạp và nhiều loại xe khác không gây ô nhiễm có thể được phép đi lại trong công viên.
Trong nhiều quan hệ pháp lý, nghĩa vụ của chủ thể pháp luật là một yêu cầu được đặt ra như một đại lượng chung để bảo vệ trật tự, an toàn xã hội. Những nghĩa vụ này là yêu cầu khách quan mà dù muốn hay không chủ thể pháp luật đó vẫn phải tuân theo.
Phần 4: Kết luận
Như vậy, tư duy phản biện không chỉ đơn thuần là sự tiếp nhận và duy trì thông tin thụ động, mà có thể tóm tắt là quá trình tư duy tìm lập luận phản bác lại kết quả của một quá trình tư duy khác để xác định lai tính chính xác của thông tin. Khi thu nhận được một thông tin, điều cần trước tiên là hiểu rõ nội dung thông tin đó, về ai, về điều gì, liên quan đến những vấn đề gì, lĩnh vực nào. Tiếp theo, dựa trên những cơ sở khoa học và lôgic, đặt ra các câu hỏi như: tại sao lại khẳng định là A mà không phải là B, trong khi B cũng có các khả năng như A. Ta có thể sử dụng những câu hỏi giúp tăng thời gian trao đổi thông tin và lượng thông tin như: Khi dùng từ ý bạn là Bạn lấy thông tin này ở đâu? Cơ sở nào khiến bạn đưa ra kết luận đó? Tại sao điều này/chi tiết này lại quan trọng? Điều gì nữa có thể giải thích cho hiện tượng này?…
Ví dụ: A nói học phần Tư duy pháp lý không hay. B nói học phần Tư duy pháp lý hay. B giải thích vì:
+ 1) Tôi quý thầy giáo dạy học phần này (Không liên quan, không mang tính phản biện).
+ 2) Nhiều năm học qua, tuyệt đại đa số người học đánh giá cao học phần này (Thông tin có giá trị phản biện).
+ 3) Nội dung học phần thú vị, thiết thực và cách thức truyền đạt của giảng viên rất mới mẻ (Thông tin có giá trị phản biện).
Tu duy phản biện rất quan trọng với người học luật. Muốn có được tư duy phản biện ta cần làm những việc sau: (1) Không vội vàng tin ngay bất kỳ điều gì mà thiếu kiểm chứng, phải thường xuyên đặt câu hỏi, phân tích, kiểm chứng thông tin, cho đến khi vấn đề trở nên đáng tin; (2) Nhìn nhận vấn đề đa chiều, sâu, rộng để đưa ra đánh giá khách quan; (3) Tách bạch phản biện vấn đề, với việc tấn công con người đang trao đổi về vấn đề, tránh nguy biện; (4) Không bị ảnh hưởng bởi số đông hoặc cảm xúc; (5) Có chính kiến, dám chịu trách nhiệm, biết lắng nghe phản biện, sẵn sàng chấp nhận những ý kiến trái ngược.
Ngoài những việc cần làm, ta cũng cần tránh những việc sau: (1) Không dám tư duy khác (thậm chí luôn cho rằng cấp trên, cha mẹ, thầy giáo, lãnh đạo…luôn đúng); (2) Tư duy ta là trung tâm, ta luôn đúng, muốn mọi thứ theo ý mình; (3) nghiêng theo ý kiến đám đông; 4) không có chính kiến riêng (gió chiều nào, theo chiều ấy); 5) vơ đũa cả nắm, thấy hiện tượng mà quy kết ngay bản chất.
Trong lĩnh vực pháp lý, ngoài phản biện ta cũng cần phải có tư duy sáng tạo. Tư duy sáng tạo chỉ có được khi ta có nhận thức đúng về các vấn đề pháp lý, các vấn đề xã hội. Cần lưu ý đến 3 yêu cầu sau đây để có tư duy sáng tạo trong lĩnh vực pháp lý.
Thứ nhất, nhiều vấn đề pháp lý và xã hội không hoàn toàn đúng, hoàn toàn sai […]. Đúng ở hoàn cảnh này, sai hoàn cảnh khác.
Ví dụ: Vấn đề kết hôn đồng giới ở Việt Nam là một vấn đề chưa được thừa nhận về mặt pháp lý. Tuy nhiên nhiều quốc gia đã thừa nhận vấn đề này như: Áo, Argentina, Bi, Bồ Đào Nha, Brasil, Canada, Colombia, Đan Mạch, Đài Loan, Đức, Ecuador, Hà Lan, Hoa Kỳ, Iceland, Ireland, Luxembourg, Malta, México (chỉ một số bang), Na Uy, Nam Phi, New Zealand (trừ Niue, Tokelau và Quần đảo Cook), Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Úc, Uruguay, Vương quốc Anh (trừ Bắc Ireland). Trong tương lai, có thể Việt Nam cũng có quy định như vậy.
Thứ hai, tính sáng tạo không bị giới hạn bới kiến thức hiện tại mà ta đang có. Bản chất cuộc sống không ngừng thay đổi.
Ví dụ 1: Chiếc ô tô hôm nay ta thấy đi ở đường bộ. Ngày mai người ta nghĩ ra ô tô có thể bay hoặc đi lại dưới nước.
Ví dụ 2: Trên cơ sở chiếc máy điện báo của T.A. Edison, ngày 10/3/1876 được coi là mốc son đầu tiên đánh dấu sự ra đời của điện thoại mà người cha phát minh ra nó là Alexander Graham Bell. Năm 2007, hãng Apple đã “trình làng” chiếc điện thoại Iphone. Sự ra đời này đánh dấu sự sáng tạo đột phá về kiểu dáng với nét đặc trưng là màn hình cảm ứng siêu nhạy giúp người sử dụng có thể thao tác dễ dàng chỉ bằng việc “lướt” nhẹ các ngón tay.
Chúng ta có thể nghe, gọi, nhắn tin, lướt web, xem video, nghe nhạc, học tập, chụp ảnh… Điện thoại di động cũng đang ngày càng trở nên thông minh hơn bởi sức sáng tạo không ngừng của con người.
Thứ ba, cần phải xóa bớt những kiến thức đã lỗi thời. Theo nguyên tắc chung, cái mới phá vỡ nguyên tắc cũ, đã lạc hậu lỗi thời. Để làm được điều này ta cần phải luôn cập nhật, học tập những kiến thức mới. Trong lĩnh vực khoa học pháp lý cũng vậy, mỗi người phải tự rèn luyện, học tập, phải loại bỏ những kiến thức đã cũ, đã lỗi thời, bổ sung những kiến thức mới, hiện đại.
==========================================
LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN:
