Quyền tác giả theo quy định của pháp luật về Sở hữu trí tuệ

Đứng trước tình cảnh các tác giả ngày càng sáng tạo ra nhiều các tác phẩm phong phú và đa dạng thì việc hiểu biết về quyền tác giả để có thể bảo hộ cho sản phẩm của mình một cách tốt nhất là điều mà mỗi tác giả cần phải hiểu, cần phải biết trong xã hội hiện nay. Vậy quyền tác giả là gì? và quyền tác giả bao gồm các loại hình nào?

Quyền tác giả là gì?

Quyền tác giả bao gồm những quyền mà pháp luật trao cho chủ sở hữu của tác phẩm về việc đặt tên tác phẩm, đứng tên (thật hoặc bút danh) trên tác phẩm,…. Tác giả hoặc chủ sở hữu có quyền điều chỉnh hay truyền tải và phổ biến tác phẩm đến với công chúng bằng việc cho phép người khác tham gia vào quá trình khai thác tác phẩm được sáng tác.

Theo khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định:

“Quyền tác giả là quyền của những tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do chính mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.”

Nội dung quyền tác giả

Quyền tác giả được chia thành quyền nhân thân và quyền tài sản.

Căn cứ Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, quyền nhân thân của tác giả bao gồm các quyền:

  • Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm. Được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Đặt tên cho tác phẩm;
  • Bảo vệ sự vẹn toàn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén;
  • Công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm;
  • Bảo hộ xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Căn cứ khoản 1 Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, quyền tài sản của tác giả bao gồm:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng.

Những đối tượng được bảo hộ bởi quyền tác giả

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019: “Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”

Tác phẩm là thành quả lao động sáng tạo của tác giả được thể hiện dưới hình thức nhất định. Căn cứ theo khoản 1 Điều 14, các loại hình tác phẩm được bảo hộ ở Việt Nam bao gồm: 

(i) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác (chữ nổi cho người khiếm thị, ký hiệu tốc ký và các ký hiệu tương tự thay cho chữ viết mà các đối tượng tiếp cận có thể sao chép được nhiều hình thức khác nhau); 

(ii) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

(iii) Tác phẩm báo chí; 

(iv) Tác phẩm âm nhạc; 

(v) Tác phẩm sân khấu; 

(vi) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo theo phương pháp tương tự (gọi chung là tác phẩm điện ảnh); 

(vii) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; 

(viii) Tác phẩm nhiếp ảnh; 

(ix) Tác phẩm kiến trúc; 

(x) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; 

(xi) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; 

(xii) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *