Quy định pháp luật về kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Bản án hình sự sơ thẩm được ban hành sau khi Tòa án có thẩm quyền tiến hành xét xử vụ án ở cấp đầu tiên. Mặc dù được xây dựng trên cơ sở xem xét chứng cứ, tranh tụng và đánh giá toàn diện các tình tiết của vụ án, nhưng trên thực tế, không phải mọi bản án sơ thẩm đều bảo đảm hoàn toàn tính chính xác, khách quan và phù hợp với quy định pháp luật.

Chính vì vậy, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại và các chủ thể có quyền, lợi ích liên quan, pháp luật tố tụng hình sự đã thiết lập cơ chế kháng cáo đối với bản án sơ thẩm. Đây là một quyền tố tụng quan trọng, cho phép các bên yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án khi có căn cứ cho rằng bản án chưa thỏa đáng hoặc còn sai sót. Cơ chế này không chỉ góp phần bảo đảm tính công bằng, minh bạch trong hoạt động xét xử mà còn là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa và khắc phục những sai lầm có thể phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án.

1. Kháng cáo là gì

          Trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, không có điều khoản nào đưa ra định nghĩa trực tiếp về kháng cáo, mà chủ yếu chỉ xác định các chủ thể có quyền thực hiện quyền này. Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định liên quan, có thể hiểu kháng cáo là một quyền tố tụng được pháp luật thừa nhận, cho phép những người có quyền và lợi ích liên quan trong vụ án hình sự đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm khi các quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật.

Việc thực hiện quyền kháng cáo nhằm tạo điều kiện để kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm. Thông qua thủ tục phúc thẩm, bản án có thể được sửa đổi, hủy bỏ hoặc thay thế nếu phát hiện có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, áp dụng sai quy định pháp luật, đánh giá không đúng các tình tiết của vụ án, hoặc xuất hiện những tình tiết mới có khả năng làm thay đổi nội dung, bản chất của vụ việc.

2. Người có quyền kháng cáo

          Căn cứ theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Người có quyền kháng cáo

  1. Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
  2. Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bão chữa.
  3. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
  5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc ngừi có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ
  6. Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tộ

3. Trình tự thủ tục kháng cáo 

– Hồ sơ:  Đơn kháng cáo:
Đơn kháng cáo phải có đầy đủ nội dung chính sau đây:

  • Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
  • Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo;
  • Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
  • Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;
  • Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

– Trình tự kháng cáo:

Bước 1: Gửi đơn kháng cáo hoặc kháng cáo trực tiếp

– Gửi đơn kháng cáo:

  • Người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.
  • Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ phải đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo và chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định kháng cáo

– Kháng cáo trực tiếp: Người kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo. Toà án phải lập biên bản về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Bước 2: Tiếp nhận và xử lý hồ sơ
– Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Toà án cấp cơ sở thẩm để thực hiện theo quy định chung.

– Sau khi nhận được đơn kháng cáo hoặc biên bản về việc kháng cáo, Toàn án cấp sơ thẩm phải vào sổ tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

– Đơn kháng cáo hợp lệ: Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 338 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

– Đơn kháng cáo không hợp lệ nhưng nội dung chưa rõ: Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho người kháng cáo để làm rõ.

– Đơn kháng cáo đúng quy định nhưng quá thời hạn kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do và xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng.

– Trường hợp người làm đơn kháng cáo không có quyền kháng cáo: Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Toàn án trả lại đơn và thông báo bằng văn bản cho người làm đơn, Viện kiểm sá cùng cấp. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do của việc trả lại đơn (việc trả lại đơn có thể bị khiếu nại trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo).

4. Thời hạn kháng cáo 

Căn cứ theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn kháng cáo được quy định như sau:

– Đối với bản án sơ thẩm: 15 ngày kể từ ngày tuyên án. (Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật).

– Đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.

– Ngày kháng cáo được xác định như sau:

  • Đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo là ngày theo dấu bưu chính nơi gửi;
  • Đơn kháng cáo gửi gửi qua Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ thì ngày kháng cáo thì ngày Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ nhận được đơn. Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ phải ghi rõ ngày nhận đơn và ký xác nhận đơn;
  • Nộp đơn kháng cáo trực tiếp tại Tòa án thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án nhận đơn
  • Người kháng cáo trình bày trực tiếp với Tòa án thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án lập biên bản về việc kháng cáo.

5. Kết luận
Quyền kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm là một trong những quyền cơ bản của người tham gia tố tụng, được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm quyền con người và duy trì sự công bằng, khách quan trong hoạt động xét xử. Cơ chế này cho phép các chủ thể có liên quan yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án sơ thẩm khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình chưa được bảo đảm thỏa đáng.

Để việc kháng cáo được thực hiện đúng quy định và đạt hiệu quả, người có quyền kháng cáo cần hiểu rõ các điều kiện pháp lý liên quan như: ai là chủ thể có quyền kháng cáo, thời hạn thực hiện, hình thức thể hiện ý chí kháng cáo và trình tự, thủ tục theo luật định. Đối với những vụ án có tính chất phức tạp hoặc liên quan đến quyền lợi quan trọng, việc tìm đến sự tư vấn của luật sư là giải pháp cần thiết. Luật sư sẽ hỗ trợ soạn thảo đơn kháng cáo bảo đảm đúng yêu cầu pháp luật, đồng thời xây dựng định hướng bảo vệ quyền lợi một cách hiệu quả trước Tòa án cấp phúc thẩm.

Công ty Luật Thinksmart 
0911.796.555